Cây hoàng cầm

Hoàng cầm – Vị thuốc thanh nhiệt tả hỏa trong y học cổ truyền

Hoàng cầm là một trong bốn vị thuốc của bài “tam hoàng giải độc thang”. Với tác dụng tả thực hỏa, trừ được thấp nhiệt. Bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu về vị thuốc hoàng cầm nhé.

Hoàng cầm thuộc cây thân thảo sống dai. Với chiều cao khoảng 30 đến 60 cm. Rễ cây có hình to thành nhiều chùy, vỏ ngoài có màu đen. Thân mọc thẳng đứng hình vuông và phân nhánh ở gốc. Lá của cây mọc đối cuống rất ngắn, cuống lá hình mác hẹp gợn sóng có đầu hơi tù. Chiều dài là khoảng 1,5 đến 3 cm, rộng 2 đến 7 mm, lá nguyên. Hoa có màu tím, mọc thành đám ở đầu cành và nằm về một bên.

Tên khoa học của hoàng cầm là Scutellaria baicalensis Georg. Thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae).

Thành phần hóa học: Baicalei, Baicalin. Và neobaicalein, b-Sitosterol, Wogonin, Wogonoside, Benzoic acid.

Theo y học cổ truyền:

Theo y học cổ truyền, vị thuốc này có vị đắng, không độc. Tính nó rất hàn. Quy vào kinh tâm, phế, tỳ, vị, bàng quang. Bộ phận dùng của nó này là rễ. Ngoài tên gọi hoàng cầm, nó còn được biết đến với nhiều tên khác. Như Tử Cầm, nội hư, lý hủ, đỗ phụ v.v..

Tác dụng của hoàng cầm dược liệu

Hoàng cầm có vị đắng nên vị thuốc này có thể vào tâm. Nó trừ được hóa khí, tả thực hỏa ở tâm. Tiêu trừ được thấp nhiệt nơi tỳ kinh. Chữa được những chứng tiểu tiện ra máu, hay chứng đi lỵ ra máu. Chứng hoàng đản, những chứng ung nhọt, chóc lỡ, ghẻ ngứa v.v..

Nếu mang nó đi tẩm rượu mà sao, thì nó có thể đi ngược lên thượng tiêu. Tả hỏa ở phế, chữa được những chứng phong nhiệt hay thấp nhiệt thượng tiêu. Giúp thông lợi khí trong lòng ngực.

Hễ củ nào nhỏ mà chắc ruột, sắc vàng bóng thì gọi là điều cầm hay tử cầm. Nó có thể tả được trường nhiệt. Thứ nào rỗng ruột thì gọi là khổ cầm, chủ tả phế hỏa.

Hoàng cầm dược liệuTheo bạn hình trên là loại cầm nào?

Bào chế

Nếu mang nó sao rượu thì nó dẫn thuốc đi trở lên trên thượng tiêu. Dùng đồng tiện sao thì dẫn thuốc về hạ tiêu. Nếu sao với đởm thì nó tả hỏa nơi can. Còn như những chứng thực hỏa khác thì có thể dùng sống.

Hoàng cầm được sơn thù, long cốt thì rất hay. Tính nó rất sợ đan sâm, mẫu đơn, lê lô.

Trải nghiệm của nhiều danh y

  • Ông Diệp Thiên Sĩ viết trong sách bản thảo kinh giải nói rằng: “Hoàng cầm khi bình, nó bẩm thụ được cái khí thiên thu mái mẻ. Nhất là khí hóa của hành kim, nó vào được kinh thủ thái âm. Cái vị của nó không có gì là độc cả. Chính vì nó được cái khí vị của nam phương chi hỏa, lại vào được thủ thiếu âm. Nên nó đều có tính giáng âm cả.”
  • Ông Hoàng Cung Tú viết trong sách bản thảo cầu chân rằng: “Hoàng cầm nó vào tiểu trường và bàng quang. Nên chữa được chứng lâm bế và ở trung tiêu có thực hỏa. Hay tà ở thiếu dương kinh được nó mà thanh giải.”

Phương thuốc giản dị

  • Một phương thuốc chữa người bị chứng thấp nhiệt, khiến hạ tiêu bị đau. Dùng vị thuốc này với bạch thược, hoàng liên, chích cam thảo, hoạt thạch, thăng ma. Tất cả sắc thành thang, chia hai lần uống trong ngày. Hoặc dùng làm tán hay hoàn đều được cả.
  • Một phương khác chữa chứng thượng tiêu tích nhiệt. Tả ngủ tạng. Dùng bài tam hoàng giải độc thang, tán thành bột mịn. Lại luyện thành hoàn to cỡ hạt ngô đồng rồi mỗi lần uống khoảng 20 viên. Ngày uống hai lần với nước ấm nóng. (Đan Khê phương)
  • Một phương khác chữa cho người mắc chứng thổ huyết. Hoặc đỗ máu cam. Có lức bệnh phát ra dữ dội, có lức lại thôi. Dùng hoàng cầm khoét hết ruột bên trong củ đi. Rồi làm thành bột mịn, mỗi ngày uống khoảng ba đồng cân. Với nước một chén nước sôi, hòa chung mà uống. (Đông Viên Phương)
  • Một bài thuốc dùng cho sản phụ sau sinh. Mắc chứng khát nước, uống bao nhiêu nước cũng không đã. Dùng mạch môn đông cùng với vị thuốc này, lượng bằng nhau. Sắc lấy nước mà uống lúc còn ấm nóng. (Dương Thị Gia phương)

Kiêng kỵ và liều dùng

Khi cần dùng đến hoàng cầm, chỉ nên dùng từ một đến hai đồng cân thôi. Người nào mà tỳ vị hư hàn rồi, hoặc như không có triệu chứng về thực hỏa hay thấp nhiệt. Thì tuyệt đối không nên dùng nó.

Lời kết:

Hoàng cầm dược liệu là vị thuốc thanh nhiệt tả hỏa rất hiệu nghiệm trong đông y. Tuy nhiên khi dùng, bạn nên có chẩn đoán chính xác. Khi hỏa đã thoái rồi thì nên ngưng, không nên dùng nhiều mà có hại. Nếu cần có thể tham khảo ý kiến thầy thuốc.

Vậy là mình đã chia sẻ xong vị thuốc này rồi. Nếu bạn còn có nghi vấn về vị thuốc này. Bạn có thể để lại bình luận bên dưới bài viết để cùng trao đôi. Chúc các bạn nhiều sức khỏe.

Chào các bạn, tôi tên Khánh Trí là y sĩ y học cổ truyền. Thời gian rảnh ngoài đọc sách, tôi còn viết blog chia sẻ kiến thức trong Đông Y.
Posts created 58

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài liên quan

Bắt đầu nhập từ khoá bên trên và nhấp enter để tìm kiếm. Nhấn ESC để huỷ.

Trở lên trên